top of page

Pháp luật Việt Nam cho phép công dân mang bao nhiêu quốc tịch?

Đã cập nhật: 27 thg 8, 2020

Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp trả lời:

Ông Nguyễn Thanh Hồng hỏi: Tôi là công dân Việt Nam, hiện đang sinh sống và làm việc tại New Zealand. Tôi đã nộp hồ sơ và đang chờ xem xét được nhập quốc tịch New Zealand.

Phía cơ quan có thẩm quyền của New Zealand không yêu cầu tôi phải thôi quốc tịch Việt Nam trước khi nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch New Zealand. Như vậy, tôi nghĩ tôi sẽ được thêm quốc tịch New Zealand ngoài quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên trong tương lai, tôi sẽ cùng gia đình tiếp tục sang Canada định cư. Tôi có thể có thêm quốc tịch Canada mà vẫn giữ quốc tịch New Zealand và quốc tịch Việt Nam không (Canada cũng cho phép mang nhiều quốc tịch)? Pháp luật của Việt Nam có cho phép không? Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp trả lời: Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác. Như vậy, nếu bạn đang là công dân Việt Nam và quốc gia bạn đang xin nhập quốc tịch không yêu cầu bạn phải thôi quốc tịch Việt Nam thì bạn có thể vừa có quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài. Việc sử dụng quốc tịch nước nào và tư cách công dân của quốc gia nào (Việt Nam hay nước ngoài) sẽ do pháp luật của Việt Nam và quốc gia bạn đang mang quốc tịch quy định, phù hợp với pháp luật quốc tế.

---------


Gần đay có vụ việc ông Phạm Phú Quốc, Đảng viên, Đại biểu Quốc hội (ĐBQH), có quốc tịch Cộng hòa Síp. Trao đổi với báo chí về việc một ĐBQH có được phép có 2 quốc tịch, ông Trần Văn Túy, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Công tác Đại biểu, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thừa nhận Luật tổ chức Quốc hội hiện hành không quy định cụ thể.

(Ông Trần Văn Túy. Ảnh: Quốc hội Việt Nam)


Cũng trao đổi về vấn đề một ĐBQH có thể có 2 quốc tịch hay không, ĐBQH Bùi Văn Xuyền, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho biết: Luật tổ chức Quốc hội hiện hành chưa quy định rõ ràng vấn đề liên quan đến quốc tịch của ĐBQH. Chính vì thế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội (được thông qua tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV) đã bổ sung. Cụ thể,  về tiêu chuẩn của ĐBQH, để đảm bảo tính chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tránh xảy ra tình trạng vi phạm trong quá trình bầu cử ĐBQH như nhiệm kỳ khóa XIV, Luật đã bổ sung quy định về tiêu chuẩn quốc tịch đối với ĐBQH. Theo đó ngoài những tiêu chuẩn chung, ĐBQH có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Luât sẽ có hiệu lực từ năm 2021.


Trước đây cũng có một ĐBQH từng có 2 quốc tịch đó là bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường khi trúng cử ĐBQH khóa XIV bị phát hiện có thêm quốc tịch Cộng hòa Malta, nhưng Quốc hội cũng lúng túng không biết xử lý sao. Trưởng Ban Công tác đại biểu dẫn lại câu chuyện là lúc đó Hội đồng bầu cử quốc gia đã họp và bỏ phiếu. Kết quả của cuộc họp và bỏ phiếu này là không công nhận tư cách đại biểu của bà Hường.